Chào mừng quý vị đến với website của TRƯỜNG TIỂU HỌC TÀ LONG
Gốc > Bài viết > Văn bản ngành > Văn bản Phòng giáo dục >
BÁO CÁOTỔNG KẾT NĂM HỌC 2008 -2009VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM HỌC 2009-2010
Tinh thần học tập để nâng cao trình độ văn hoá trong nhân dân đã có sự chuyển biến. Ở một số địa phương, chính quyền cơ sở đã có những biểu hiện quan tâm rõ nét hơn đối với giáo dục như tăng cường các điều kiện CSVC để phục vụ công tác dạy và học; quan tâm hơn đối với đời sống vật chất và tinh thần của c
BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM HỌC 2008-2009
| UBND HUYỆN ĐAKRÔNGPHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO Số: ... /BC-PGD&ĐT | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc Đakrông, ngày … tháng 8 năm 2009 |
Năm học 2008- 2009, Giáo dục và Đào tạo Đakrông tiếp tục thực hiện các chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, của Ngành cấp trên, đặc biệt là năm học tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị 06/CT-TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Hai không" với 4 nội dung: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với vi phạm đạo đưc nhà giáo và tình trạng học sinh không đạt chuẩn lên lớp”.
Hưởng ứng và triển khai thực hiện chủ đề trọng tâm năm học “Năm ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Quán triệt tinh thần Chỉ thị số 47/2008/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; trên cơ sở triển khai thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm và 9 nhiệm vụ và giải pháp cụ thể của Sở GD&ĐT Quảng Trị đề ra trong năm học 2008 - 2009, tranh thủ sự chỉ đạo của Thường vụ Huyện uỷ, UBND huyện; qua quá trình triển khai thực hiện, Phòng GD&ĐT Đakrông tập trung đánh giá, kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ năm học 2008-2009 như sau:
PHẦN THỨ NHẤTĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2008 - 2009 I. Những thuận lợi, khó khăn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2008-20091. Những thuận lợi cơ bản:Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo; Thường vụ Huyện ủy; UBND huyện; sự phối hợp của các ban ngành, chính quyền địa phương; sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước là điều kiện quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học.
Sự đồng thuận trong nhận thức và hành động của đội ngũ, tinh thần khắc phục khó khăn, tận tụy với công việc của đa số CBQL, giáo viên đứng lớp, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa là yếu tố tiên quyết và cơ bản để tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ của ngành đề ra.
Cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đem lại những kết quả rõ nét, mang lại những chuyển biến tích cực, tạo nên không khí thi đua sôi nổi rộng khắp trong toàn ngành, được dư luận xã hội, nhất là phụ huynh học sinh quan tâm, đón nhận với thái độ tích cực, từ đó giúp cho giáo dục có thêm điều kiện để triển khai các giải pháp toàn diện hơn.
2. Những khó khăn chủ yếu:Điều kiện KT - XH của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân, vì vậy người dân ít có điều kiện để chăm lo đến việc học tập của con em. Công tác XHH giáo dục cũng vì thế mà ít có sự chuyển biến. Điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác huy động và duy trì số lượng cũng như nâng cao chất lượng ở các nhà trường.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học còn nhiều yếu kém. Việc phát triển giáo dục theo yêu cầu “chuẩn hóa, hiện đại hóa” đang mâu thuẫn với khả năng và điều kiện hiện có.
Đội ngũ cán bộ giáo viên còn thiếu, không ổn định công tác lâu dài ảnh hưởng đến việc bố trí, sắp xếp trong các đơn vị trường học.
II. Tình hình thực hiện các chủ trương lớn của ngành:1. Tình hình thực hiện cuộc vận động “Hai không” và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.1.1. Thực hiện cuộc vận động “Hai không”:Phòng GD&ĐT đã chỉ đạo các nhà trường tiếp tục phổ biến đến từng cán bộ, giáo viên với 4 nội dung trọng tâm; chủ động tham mưu UBND huyện ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND về thực hiện các nhiệm vụ năm học 2008-2009; chỉ đạo các đơn vị ký cam kết thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong năm học; tuyên truyền rộng rãi trong xã hội, nhất là trong các tổ chức, đoàn thể, giáo viên, phụ huynh và học sinh về cuộc vận động.Tiếp tục tăng cường các giải pháp chất lượng theo hướng chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đại trà; từng bước tìm các hướng đi mới, khâu đột phá trong việc nâng cao chất lượng mũi nhọn ở các ngành học, cấp học.
Đối với ngành học mầm non: Phòng đã tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác thực hiện đổi mới chương trình, tổ chức các đợt tập huấn theo sự hỗ trợ các chương trình dự án nhằm nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên.
Đối với ngành học phổ thông: Chỉ đạo đổi mới tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn trong các trường nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp; tổ chức các chuyên đề theo từng cụm, tiếp tục trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học, chương trình, sách giáo khoa đổi mới; tiến hành khảo sát các lớp các cấp học để đánh giá mặt bằng mức chất lượng tối thiểu và chỉ đạo các giải pháp nâng cao chất lượng; phân loại đối tượng học sinh, tổ chức phụ đạo, kèm cặp trong suốt năm học; tiến hành ra đề chung một số môn học ở cấp THCS; thực hiện nghiêm túc coi thi, chấm thi, cho điểm, đánh giá, xếp loại học sinh.
Phát động mạnh mẽ phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”; trong đó tập trung trọng tâm chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 với nhiều hoạt động phong phú như: phát động phong trào văn hoá, văn nghệ, thao giảng, tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi….
Tăng cường công tác thanh, kiểm tra trong các đơn vị trường học; tiếp tục chấn chỉnh nề nếp, kỷ cương học đường, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, giáo viên.
1.2 Tình hình thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”Sau 2 năm triển khai thực hiện, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo những chuyển biến đáng kể về nhận thức và hành động thực tiễn trong cán bộ, giáo viên và học sinh. Học sinh đã được học tập, nghiên cứu các tư liệu về Bác và qua các môn học như Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân đã góp phần xây dựng tình cảm, lòng kính yêu thực sự đối với Bác, hình thành ý thức thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, tinh thần học tập tự giác, sáng tạo, ý chí phấn đấu vươn lên mạnh mẽ trong học tập và rèn luyện đạo đức. Đội ngũ cán bộ, giáo viên đã được tham gia học tập, nghiên cứu các chuyên đề về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; qua đó, mỗi thầy giáo, cô giáo tự lựa chọn những việc làm cụ thể, thiết thực góp phần thực hiện cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo". Quy định đạo đức nhà giáo theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được phổ biến tới từng giáo viên; không có trường hợp CB-GV vi phạm về đạo đức nhà giáo. Nhiều tấm gương tận tụy vì học sinh thân yêu, cống hiến vì sự nghiệp đổi mới của ngành đã được biểu dương, khen thưởng kịp thời.
2. Tình hình triển khai thực hiện chủ đề "Năm ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lí tài chính”.Trên tinh thần chỉ đạo của ngành cấp trên, căn cứ vào điều kiện thực tế của giáo dục huyện nhà, Phòng Giáo dục & Đào tạo tập trung chỉ đạo những vấn đề sau:
- Các đơn vị trường học xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức về CNTT cho cán bộ giáo viên, phấn đấu đến 2010 có 100% cán bộ giáo viên có chứng chỉ A Tin học trở lên.
- Khuyến khích giáo viên sử dụng giáo án điện tử, các phương tiện thiết bị hiện đại nhằm thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Tích cực ứng dụng Công nghệ thông tin và ứng dụng phần mềm trong công tác quản lý cán bộ, dạy học, tài chính. Chỉ đạo các trường học có điều kiện triển khai ứng dụng phần mềm QLHS trong nhà trường.
- Nối mạng Internet tạo điều kiện cho CBGV cập nhật, khai thác thông tin trên mạng nhằm nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn.
* Kết quả đạt được như sau:
- Có 23 trường học đã nối mạng Internet; 03 đơn vị (THCS Ba Lòng, Triệu Nguyên, Hướng Hiệp) đã được trang bị phòng máy và thực hiện giảng dạy tin học cho học sinh. Trường Mầm non Hoa Lan đã ứng dụng phần mềm KidsMart vào dạy học. Có 25% giáo viên soạn bài bằng máy vi tính và giáo án điện tử. Nhiều giáo viên tự học nâng cao năng lực sử dụng máy tính, đa số giáo viên thực hiện khá thành thạo việc soạn giảng trên máy tính. Trong kì thi GVDG bậc THCS cấp huyện đã có 85% giáo viên tham gia dự thi bằng giáo án điện tử.
- Toàn ngành có 334 CB, GV, NV có chứng chỉ A, B, kỹ thuật viên Tin học.
- Có 100% các đơn vị trường học cài đặt phần mềm quản lý tài chính, tài sản.
- 100% các đơn vị có giáo dục THCS sử dụng phần mềm quản lí học sinh, áp dụng phần mềm vào công tác xét tốt nghiệp.
Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện đang gặp những khó khăn như CSVC còn thiếu nhiều; phòng học bộ môn chưa đảm bảo quy cách, phương tiện CNTT còn thiếu phần nào đã ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy ứng dụng CNTT và triển khai kết nối mạng Internet ở các đơn vị trường học.
3. Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.Thực hiện Chỉ thị số 40/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ GD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013, Phòng GD&ĐT tham mưu UBND huyện thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện; tiến hành xây dựng và triển khai kế hoạch trong năm học 2008-2009 và giai đoạn 2008-2013. Chỉ đạo các nhà trường thành lập Ban chỉ đạo cấp trường và tổ chức các hoạt động tuyên truyền để cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh, cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể cùng hưởng ứng tham gia phong trào. Sau 01 năm triển khai thực hiện, bước đầu đã đạt được một số kết quả như sau:
3.1. Về nội dung xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn:Các trường đã có sự chuyển biến trong việc quy hoạch mạng lưới khuôn viên trường lớp học. Một số đơn vị đã quan tâm đến việc trồng cây, vệ sinh học đường, tạo quang cảnh cho trường học. Các đơn vị TH Tà Rụt, TH số 2 Hướng Hiệp, TH Tà Long ... đã quan tâm đến việc trang trí lớp học theo quy định. Hiện toàn ngành có hơn 534 cây cảnh các loại; 1.534 cây bóng mát và 12.795 cây lấy gỗ như tràm hoa vàng, keo tai tượng; 509 cây ăn quả. Đối với ngành học mầm non, công tác vận động phụ huynh san đất làm khuôn viên, trồng bồn hoa, cây cảnh, trồng rau xanh, làm hàng rào đã được thực hiện khá tốt. Có 25/36 trường (69,4 %) đạt tiêu chí xanh hóa trường học. Không có học sinh vi phạm tệ nạn xã hội. Không có học sinh bị các tai nạn nghiêm trọng xảy ra trong nhà trường.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì ở một số trường diện tích khuôn viên còn chật hẹp, chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục toàn diện cho học sinh, nhất là việc giáo dục vệ sinh học đường và vệ sinh cá nhân còn kém. Việc trồng cây ở một số trường chưa đảm bảo tính quy hoạch, số lượng cây chết nhiều. Tình trạng người dân xâm phạm khuôn viên trường học để đi lại, thậm chí cản trở các hoạt động của nhà trường ở nhiều nơi vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Đa số các điểm trường chính đã có khu vệ sinh đảm bảo nhưng ở các điểm trường lẻ thì vẫn còn thiếu nhiều.
3.2. Về nội dung xây dựng môi trường học tập tích cực, hiệu quả, phù hợp với học sinh:Đây là nội dung trọng tâm mà ngành giáo dục huyện tập trung chỉ đạo trong năm học qua nhằm làm chuyển biến, nâng cao chất lượng đại trà trong học sinh. Phòng đã tổ chức nhiều chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học từ cấp tỉnh đến cấp trường. Khuyến khích tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên trong học tập của học sinh. Nhiều trường tổ chức tốt việc thao giảng dự rút kinh nghiệm trong giáo viên. Việc tích hợp lồng ghép các nội dung vào các môn học đã được quan tâm đúng mức. Đặc biệt, trong năm học qua, được sự giúp đỡ của Tổ chức Cứu trợ trẻ em và các phòng chuyên môn Sở, đã tập huấn nhiều chuyên đề thiết thực cho cán bộ quản lí và giáo viên như: Phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc; hiệu chỉnh chuẩn kiến thức chương trình lớp 1 đối với học sinh dân tộc; nâng cao kĩ năng dạy học cho giáo viên Mầm non ... Những giải pháp trên bước đầu đem lại chuyển biến khá rõ nét trong học sinh, các em đã chủ động hơn trong học tập, mạnh dạn tham gia các hoạt động của nhà trường, xã hội ...
Tuy nhiên, trong năm học qua vẫn còn tình trạng học sinh học yếu dẫn đến bỏ học. Tỉ lệ chuyên cần đối với học sinh bậc THCS và tiểu học ở các trường vùng sâu, vùng xa chưa cao. Nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em. Sự vào cuộc của chính quyền địa phương, của các ban ngành chưa thực sự tích cực, hiệu quả.
3.3. Về nội dung rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh:Thông qua các hoạt động, tùy theo đặc điểm lứa tuổi, tâm sinh lí của học sinh ở các cấp học, các nhà trường thực hiện nội dung rèn luyện kĩ năng sống cho các em một cách phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Hầu hết các trường đã hướng dẫn cho học sinh có thói quen vệ sinh cá nhân, cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về bảo vệ và giữ gìn sức khỏe, về an toàn giao thông. Các nội dung về giáo dục đạo đức, quan hệ xã hội như quyền trẻ em, bình đẳng nam nữ, kính trọng ông bà cha mẹ, trách nhiệm đối với gia đình, xã hội đã được thực hiện lồng có hiệu quả vào các môn học. Thông qua các hoạt động học tập, lao động, vui chơi đã rèn luyện cho các em có thói quen làm việc theo kế hoạch, biết phối hợp theo nhóm, biết tự mình tháo gỡ những khó khăn khi gặp phải.
Nhìn chung, đa số học sinh mạnh dạn, tự tin. Các em có khả năng bày tỏ thái độ, hiểu biết, thể hiện cách ứng xử phù hợp trong những tình huống gặp phải. Tuy nhiên, ở các điểm trường lẻ, các trường vùng sâu, vùng xa ít có điều kiện để tổ chức các hoạt động giao lưu rộng rãi. Học sinh ở các vùng này cũng kém mạnh dạn hơn.
3.4. Về nội dung tổ chức các hoạt động tập thểXác định đây vừa là một nội dung của phong trào song đồng thời là một nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp không thể thiếu trong các nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, trên tinh thần đó Phòng đã chỉ đạo các trường tổ chức tốt các hoạt động như đưa trò chơi dân gian vào trường học; chăm sóc các di tích lịch sử, văn hóa; tổ chức hội thi “Bảo vệ môi trường”; tổ chức “Ngày Hội đọc” đối với các trường có giáo dục THCS; phối hợp với Trung tâm YTDP huyện kiểm tra sức khỏe cho học sinh; tổ chức các hoạt động cắm trại, tham quan, giao lưu; hoạt động ca múa hát tập thể dưới cờ; tổ chức Hội thi thể thao học đường ... Các hoạt động đó đã có tác dụng thiết thực trong việc giáo dục tinh thần tập thể, giáo dục truyền thống, góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
3.5. Về nội dung học sinh tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương:Trên tinh thần chỉ đạo của ngành, Phòng tiến hành triển khai việc nhận chăm sóc các di tích lịch sử, văn hóa tại địa phương đến với tất các các trường học. Đối với những nơi không có di tích lịch sử, văn hóa thì đăng kí nhận chăm sóc các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các Gia đình có công cách mạng có hoàn cảnh neo đơn. Kết quả có 10 di tích lịch sử, 03 đối tượng chính sách và 03 trung tâm học tập cộng đồng được các nhà trường nhận chăm sóc. Thông qua hoạt động này, học sinh có thêm cơ hội để hiểu biết sâu sắc hơn về mảnh đất và con người quê hương. Qua đây cũng góp giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” quý báu của dân tộc.
3.6. Về tính sáng tạo trong việc chỉ đạo thực hiện phong trào và mức độ tiến bộ của các nhà trường:Xuất phát từ địa bàn giáo dục vùng khó, vùng đồng bào dân tộc ít người nên trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện bước đầu gặp phải những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, ý thức rõ mục đích của phong trào, các cấp quản lí từ phòng đến trường đã nhanh chóng xây dựng cơ cấu tổ chức, huy động sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể và phụ huynh học sinh, thực hiện kí cam kết với ngành văn hóa cùng cấp trên địa bàn để phối hợp thực hiện. Toàn ngành triển khai đầy đủ nội dung Chỉ thị 71/2008/CT-BGDĐT, ngày 23/12/2008 của Bộ GD&ĐT về tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên. Mặt khác, phát huy lợi thế của vùng miền, có nhiều di tích lịch sử cách mạng, nhiều danh lam thắng cảnh, đời sống văn hóa dân gian khá phong phú và đặc sắc nên các trường đã tổ chức được nhiều nội dung sinh động, thu hút được sự hứng thú tham gia của học sinh.
Kết quả hoạt động của phong trào trong năm học 2008 - 2009 như sau:Phòng đánh giá: 07 trường
- Loại xuất sắc: 01 trường
- Loại tốt: 03 trường
- Loại khá: 03 trường
Nhà trường tự đánh giá: 29 trường
- Loại xuất sắc: Không
- Loại tốt: 02 trường
- Loại khá: 14 trường
- Loại trung bình: 14 trường
- Loại CCG: 04 trường
4. Công tác phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn vùng khó:Năm học 2008-2009, tiếp tục thực hiện Quyết định 161 và 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục Mầm non vùng khó toàn ngành tiếp tục chủ trương mở rộng mạng lưới ngành học Mầm non tới tận từng thôn bản. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, sự đầu tư cơ sở vật chất của các chương trình, dự án, giáo dục Mầm non Đakrông tiếp tục phát triển về quy mô lẫn số lượng. Toàn huyện có 12 trường Mẫu giáo, 01 trường Mầm non và có 01 cơ sở Mẫu giáo gắn với trường Tiểu học ở Hải Phúc - Gồm 72 điểm trường/102 thôn bản. Tuy CSVC trường lớp còn thiếu nhiều, nhưng quy mô phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ trong độ tuổi trên địa bàn huyện được đến trường, được chăm sóc và giáo dục, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra.
5. Vấn đề xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia:Năm học 2008-2009, Phòng GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trường học từng bước nâng dần các chuẩn để tiến tới xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 1, trong đó tập trung chỉ đạo đối với trường TH số 1 Hướng Hiệp, trường THCS Ba Lòng. Tiếp tục tu sửa CSVC để duy trì chuẩn đối với trường Mầm non Hoa Lan trong năm 2009.
Phòng tham mưu UBND huyện tuyển dụng đáp ứng đủ đội ngũ đảm bảo tiêu chuẩn tổ chức và quản lý đối với trường xây dựng đạt chuẩn Quốc gia; tranh thủ các nguồn kinh phí đầu tư xây dựng các hạng mục theo yêu cầu; đầu tư nguồn kinh phí sự nghiệp năm 2009 cho nhà trường xây dựng CSVC, trang cấp thiết bị dạy học. Tham mưu sử dụng kinh phí trong chương trình hỗ trợ huyện nghèo để xây dựng khu hiệu bộ cho trường TH số 1 Hướng Hiệp, xây dựng phòng học bộ môn cho trường THCS Ba Lòng.
Mặc dù việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đã được đưa vào Nghị quyết của Huyện ủy và chương trình công tác của UBND huyện nhưng tiến độ vẫn còn chậm, nguyên nhân chủ yếu là thiếu kinh phí để xây dựng CSVC. Đó cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc chỉ đạo và phát triển các trường trọng điểm ở các bậc học, ngành học.
II. Tình hình thực hiện các nhiệm vụ cơ bản:1. Quy mô phát triển mạng lưới trường, lớp và công tác phổ cập:1.1. Quy mô, mạng lưới:Năm học 2008-2009, mạng lưới trường lớp trên địa bàn huyện tiếp tục được củng cố và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để huy động tối đa học sinh đến trường. Phòng GD&ĐT đã tham mưu cho UBND huyện và ngành cấp trên về quy hoạch kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn đến 2015 chiến lược đến 2020. Hệ thống trường lớp cụ thể như sau:* Ngành học Mầm non: 14 xã, thị trấn trong đó có: 01 trường mầm non, 12 trường mẫu giáo, 01 cơ sở mẫu giáo đang gắn với trường Tiểu học.
* Ngành học Phổ thông: Gồm 23 trường, tăng 04 trường (02 trường TH và 02 trường THCS) so với năm học trước, cụ thể:
- Tiểu học : Có 12 trường
- TH&THCS: Có 04 trường
- THCS: Có 07 trường (không tính trường THCS Tà Rụt)
* Những vấn đề đặt ra:Tuy mạng lưới trường lớp ngày càng phát triển nhưng do địa bàn còn có các khu vực vùng sâu, vùng xa, chưa có đường giao thông, số học sinh quá ít nên chưa thể mở lớp (ngành học mầm non - 07 thôn - 54 cháu chiếm 5,15%). Mặt khác cũng do tính đặc thù của địa bàn nên vẫn phải duy trì nhiều lớp ghép ở bậc tiểu học (28 lớp ghép - 426 HS). Việc có quá nhiều điểm lẻ đã ảnh hưởng lớn đến công tác quản lí chỉ đạo từ phòng đến trường (TH có 52 điểm lẻ; MN có 58 điểm lẻ, THCS có 5 điểm lẻ).
1.2. Công tác huy động và duy trì số lượng:Xác định việc huy động và duy trì số lượng, nâng cao tỷ lệ chuyên cần là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đại trà. Trong năm học qua, Phòng GD&ĐT đã chỉ đạo các đơn vị xây dựng các giải pháp cụ thể như: Tổ chức tốt ngày “Toàn dân đưa trẻ đến trường”; tham mưu chặt chẽ với chính quyền địa phương, tích cực tuyên truyền trong nhân dân, phối kết hợp với các lực lượng trong xã hội để làm tốt từ công tác điều tra, vận động và huy động; chỉ đạo tiếp tục duy trì các điểm trường lẻ ở cấp THCS để huy động học sinh hoàn thành chương trình TH vào lớp 6 và huy động lại số học sinh đang ở ngoài nhà trường; phát động các phong trào thi đua sôi nổi nhằm tạo cho học sinh hứng thú, niềm vui khi đến trường. Hưởng ứng năm phổ cập trẻ 5 tuổi đối với ngành học mầm non. Kết quả:
+ Ngành học Mầm non:Có 72 điểm trường /102 thôn bản
Nhà trẻ: Gồm 03 nhóm trẻ - 39 cháu, tỷ lệ huy động đạt 1,5% so với độ tuổi trong xã hội, giảm 0,03% so với năm trước.
Mẫu giáo: 105 lớp - 1928 cháu, tăng 13 lớp - 179 cháu so với năm học trước. Tỷ lệ huy động trẻ 3-5 tuổi đạt 64,5% so với độ tuổi trong xã hội (riêng 5 tuổi huy động 995 cháu đạt 94,85% trong độ tuổi). + Ngành học phổ thông:* Cấp tiểu học: Có 66 điểm trường - 301 lớp - 5033 học sinh. Tăng 06 lớp, 23 em so với năm trước. Trong đó: - Lớp 1: 63 lớp - 1135 HS - Lớp 4: 58 lớp - 955 HS- Lớp 2: 62 lớp - 1022 HS - Lớp 5: 51 lớp - 889 HS
- Lớp 3: 67 lớp - 1032 HS
Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1: 1010 - Đạt 97,02 tăng 0,07 so với năm học trước. Tỉ lệ học sinh trong độ tuổi: 87,45%; Số học sinh giảm 43 (trong đó bỏ học 27 em - chiếm 0,53%).* Cấp THCS: Có 17 điểm trường (trong đó có 05 điểm trường lẻ) với: 85 lớp – 2233 học sinh (không tính 13lớp - 376 học sinh THCS trường THPT số 2 Đakrông); giảm so với đầu năm học: 48 em (trong đó bỏ học 41 em - chiếm 1,23%). Trong đó:- Lớp 6: 26 lớp - 736 HS - Lớp 8: 21 lớp - 527 HS
- Lớp 7: 21 lớp - 575 HS - Lớp 9: 17 lớp - 395 HS
+ Tỉ lệ huy động HS hoàn thành chương trình TH vào lớp 6: 880/918 đạt 95,9% tăng 2% so với năm học trước (Trong đó có 58 HS vào học trường DTNT).* Những vấn đề đặt ra:Công tác duy trì số lượng đạt kết quả tốt hơn so với năm học trước, tuy nhiên số học sinh chuyên cần trên lớp vẫn chưa cao, đặc biệt vào một số thời điểm, tỉ lệ chuyên cần rất thấp, nhất là các khu vực lẻ.
1.3. Thực hiện công tác phổ cập:Công tác phổ cập được xác định là nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng. Công tác chỉ đạo được cụ thể hoá bằng các giải pháp từ việc điều tra, thống kê số liệu, kế hoạch huy động, vận động mở lớp; đến việc bố trí ngân sách nhằm thực hiện hiệu quả kế hoạch. Các nhà trường tiếp tục thực hiện "Một Hội đồng hai nhiệm vụ", bổ sung thêm giáo viên hợp đồng để đảm bảo giảng dạy. Năm học 2008-2009 đã mở 15 lớp phổ cập THCS với 202 học viên (nay đang tiếp tục duy trì). Cơ bản công tác phổ cập đạt kế hoạch đề ra. Kết quả:
* Phổ cập giáo dục Tiểu học - CMC:- Duy trì vững chắc 14/14 xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về PCGDT'H - CMC.
+ Tỷ lệ người lớn trong độ tuổi 15-25 thoát nạn mù chữ toàn huyện đạt 99,28%.
* Phổ cập tiểu học đúng độ tuổi:- Có 13/14 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi - Tăng 03 đơn vị so với năm trước. Được công nhận đạt chuẩn PCGDTH- ĐĐT năm 2008.
+ Tỷ lệ huy động trẻ 6 -10 tuổi vào nhà trường đạt 98,31%
* Phổ cập Trung học cơ sở:- Có 14/14 xã, thị trấn đat chuẩn quốc gia về PCGD THCS.
+ Tỷ lệ huy động HS 11-14 vào nhà trường đạt 95,35%
Tuy nhiên, việc huy động, duy trì số lượng HS ở một số đơn vị thiếu hiệu quả, chưa quyết liệt. Số học sinh trong độ tuổi đang ở ngoài xã hội khá nhiều. Các đơn vị như Pa Nang, Tà Rụt, Đakrông, Hải Phúc, A Ngo mức độ đạt chuẩn thấp. Xã Tà Rụt chưa đạt chuẩn PCTH đúng độ tuổi. Công tác thiết lập hồ sơ, lưu giữ số liệu ở một số đơn vị chưa được khoa học, chính xác.
2. Thực hiện đổi mới chương trình - SGK, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng. 2.1. Ngành học mầm non:Tiếp tục thực hiện chương trình đổi mới và chương trình 150 buổi. Các hoạt động chăm sóc, nuôi dạy và giáo dục trẻ được thực hiện tương đối toàn diện. Đội ngũ giáo viên trong biên chế tiếp tục được bổ sung, các hoạt động chuyên môn ngày càng đi vào nề nếp và hiệu quả. Ý thức, trách nhiệm của giáo viên ngày càng nâng cao, phong trào thi đua trong các trường học diễn ra sôi nổi. Bên cạnh đó, nhờ sự đầu tư, hỗ trợ về CSVC, đồ dùng, đồ chơi của các dự án nên công tác chăm sóc, nuôi dạy các cháu có phần thuận lợi hơn, chất lượng nuôi dạy, chăm sóc và giáo dục trẻ từng bước được nâng cao. Toàn huyện có 04 đơn vị (MN Hoa Lan, MG Ba Lòng, MG Triệu Nguyên, MG Tà Long) đã tổ chức bếp ăn bán trú cho 270 cháu.
Tuy nhiên, do điều kiện CSVC còn thiếu nhiều nên ngành học đã gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng bán trú, tổ chức dạy 2 buổi/ngày. Kết quả:
- 100% cháu mẫu giáo được tham gia tiêm chủng, uống Vắc xin.
- Đảm bảo 100% các cháu an toàn trong trường học.
- Chất lượng nuôi dưỡng:
* Nhà trẻ: 39 cháu
+ Kênh A: 38 cháu - Tỉ lệ: 97,4% + Kênh B: 01 cháu - Tỉ lệ: 2,6 %
* Mẫu giáo: 1928 cháu
+ Kênh A: 1393 cháu - Tỉ lệ: 72,2%
+ Kênh B: 458 cháu - Tỉ lệ: 23,8 %
+ Kênh C: 77 cháu - Tỉ lệ: 4,0 %
Chất lượng giáo dục ngành học: (có phụ lục kèm theo).
2.2. Ngành học phổ thông:Phòng GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo đổi mới PPDH phù hợp đối tượng học sinh; tập trung chỉ đạo các giải pháp nâng cao chất lượng đại trà. Tổ chức cho 100% giáo viên và cán bộ quản lý tham gia các lớp tập huấn chương trình bồi dưỡng hè năm 2008.
Chỉ đạo thống nhất thực hiện chương trình được ban hành năm 2007 đối với bậc THCS, chương trình HĐGDNGLL; triển khai nghiêm túc và hiệu quả dạy môn học tự chọn và sinh hoạt hướng nghiệp nghề cho học sinh.
Thực hiện rà soát, phân loại đối tượng học sinh; tổ chức dạy phụ đạo cho học sinh yếu, kém trong suốt năm học và trong dịp hè; Tiến hành ra đề thi một số môn học cơ bản để đánh giá chất lượng chung, từ đó có những giải pháp chỉ đạo phù hợp; đổi mới kiểm tra, thi cử và đánh giá chất lượng học sinh.
Hưởng ứng và triển khai thực hiện chủ đề năm học, nhiều đơn vị phát động mạnh mẽ phong trào ứng dụng CNTT trong giảng dạy, tổ chức các chuyên đề, tích cực sử dụng trang thiết bị, đồ dùng dạy học; phong trào tự làm đồ dùng dạy học trong các nhà trường cũng được quan tâm đúng mức. Phòng GD&ĐT tranh thủ các nguồn kinh phí để mua sắm thiết bị, đồ dùng, sách giáo khoa ... nhằm tạo điều kiện cho học sinh có đủ sách vở và dụng cụ học tập.
* Kết quả chất lượng:
+ Cấp Tiểu học:- Học sinh HTCTTH lần 1: 886/889 đạt 99,66%
- HS xếp hạnh kiểm chưa đạt, phải rèn luyện trong hè: 95 h/s chiếm 1,80%
- HS tham gia dự thi HSG cấp huyện: 60 được công nhận HSG cấp huyện: 42.
- HS tham gia dự thi HSG cấp tỉnh: 42 có 4 giải (02 giải ba, 02 giải khuyến khích).
+ Cấp THCS: HS đủ điều kiện dự xét TNTHCS năm 2009: 442 (kể cả HS trường THPT số 2 Đakrông), 52 HS trường PTDTNT, 40 HS tự do.
- HS tham gia dự thi thực hành HSG cấp huyện: 45 đạt giải: 27 trong đó:
Thực hành lớp 8: 12 giải (01 giải nhất Vật lý, 02 giải nhất Hóa học; 01 giải nhì Vật lý, 02 giải nhì Sinh học; 01 giải ba Hóa học, 02 giải ba Vật lý; 01 giải khuyến khích Vật lý, 02 khuyến khích Sinh học).
Thực hành lớp 9: 15 giải (02 giải nhất Vật lý, 01 giải nhất Hóa học; 02 giải nhì Vật lý, 01 giải nhì Hóa học, 01 giải nhì Sinh học; 01 giải ba Sinh học, 02 giải ba Vật lý; 01 giải khuyến khích Vật lý, 02 khuyến khích Sinh học, 02 khuyến khích Hóa học).
- HS tham gia dự thi giải toán trên máy Casio cấp huyện: 6 đạt giải: 04 (01 nhất, 01 nhì, 02 khuyến khích)
- HS tham gia dự thi HSG văn hóa cấp huyện: 34 đạt giải 13 trong đó: (03 giải nhất: Hóa học, Lịch sử, Địa lý; 4 giải nhì: Toán, Vật lý, Địa lý, Sinh học; 3 giải khuyến khích: Hóa học, Ngữ văn, Sinh học; 03 giải khuyến khích Địa lý).
- HS tham gia dự thi HSG văn hóa cấp tỉnh: 07 đạt giải 03 trong đó: (01 giải ba Lịch sử; 02 giải khuyến khích: Hóa học, Vật lý).
Phòng GD&ĐT đã tổ chức Hội thi TDTT học đường năm 2009 có 104 VĐV của 22 đơn vị tham gia với 162 lượt thi đấu kết quả: Giải toàn đoàn 5 đơn vị: (02 nhất, 02 nhì, 01 ba). 54 giải cá nhân trong đó: giải nhất: 18; giải nhì: 18; giải ba: 18.
* Kết quả xếp loại hai mặt chất lượng :
(Chất lượng cụ thể các đơn vị có phụ lục kèm theo)* Hạn chế:Điều kiện cơ sở vật chất như: Phòng hiệu bộ, phòng học, phòng thí nghiệm thực hành, phòng thư viện, trang thiết bị bên trong và các phương tiện nghe nhìn khác còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu.
Đối với học sinh tiểu học, đa số các trường chưa có điều kiện để tổ chức học 02 buổi/ngày nên chưa khai thác hết hiệu quả thời gian học trên lớp.
Công tác tổ chức phụ đạo cho HS yếu kém ở một số đơn vị thiếu quyết liệt.
Điều kiện trao đổi kinh nghiệm của giáo viên cùng bộ môn còn gặp nhiều khó khăn; một số giáo viên phải dạy kiêm khác môn nên chất lượng một số môn học chưa đạt theo yêu. Bên cạnh một số GV có trình độ chuyên môn còn yếu, thì tình trạng GV chỉ chuẩn bị khá tốt trong các giờ thao giảng mà không đầu tư đúng mức các giờ dạy hàng ngày đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.
Tỷ lệ học sinh chuyên cần trên lớp chưa cao, thiếu các phương tiện học tập, ý thức tự học ở nhà của học sinh còn thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học.
3. Công tác điều kiện:3.1. Công tác đội ngũ: Toàn ngành hiện có: 780 cán bộ, giáo viên, nhân viên. (Mầm non: 162đ/c; TH: 378đ/c; THCS: 240đ/c)+ Biên chế chính thức: 661đ/c (Tính cả 22 GV THCS trường THPT số 2 Đakrông)
(Trong đó: CBQL: 72 kể cả PTCM ; GV: 602; NV: 13)
+ Hợp đồng : 119 (Trong đó có 53 nhân viên)
+ Đảng viên : 227 đ/c Đạt 29,1 %/tổng số
+ Dân tộc : 128đ/c Chiếm 16,4 %/tổng số
Trình độ chuyên môn:
+ Mầm non: Đạt chuẩn: 54,55%; trên chuẩn: 36,61%; tỷ lệ GV dân tộc: 21,43%
+ Tiểu học: Đạt chuẩn: 35,88%; trên chuẩn: 62,43%; tỷ lệ GV dân tộc: 17,51%
+ THCS: Đạt chuẩn: 53,43%; trên chuẩn: 38,25%; tỷ lệ GV dân tộc: 11,27%
Trong năm học 2008-2009, đội ngũ tiếp tục được tăng cường. Bên cạnh chỉ đạo các trường tổ chức kèm cặp, giúp đỡ các GV có năng lực còn yếu. Phòng GD&ĐT đã tổ chức đầy đủ các đợt tập huấn, tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên và nhân viên tham gia học tập nâng cao trình độ. Đến nay có 39 cán bộ, giáo viên đi học các lớp Đại học, Cao đẳng.
Nhìn chung đa số giáo viên toàn ngành trẻ, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác. Đội ngũ giáo viên có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có lối sống lành mạnh, mô phạm; luôn trau dồi đạo đức của nhà giáo; phần lớn giáo viên đều có ý thức tự học, tự rèn, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
* Kết quả thi giáo viên dạy giỏi: 141 GV đạt GVDG cấp huyện các ngành học, cấp học - Đạt 21,33% so với GVBC
- Ngành học MN: 26 GV được công nhận GVDG cấp huyện trên tổng số 29 GV dự thi, chọn 06 GV tham gia dự thi GVDG cấp tỉnh, kết quả có 06 GV được công nhận GVDG cấp tỉnh.
- Cấp Tiểu học: 59 GV được công nhận GVDG cấp huyện trên tổng số 77 GV đăng ký dự thi và chọn 09 GV tham gia dự thi GVDG cấp tỉnh, kết quả có 09 GV được công nhận GVDG cấp tỉnh.
- Cấp THCS: 56 GV được công nhận GVDG cấp huyện trên tổng số 89 GV đăng ký dự thi và chọn 14 GV tham gia dự thi GVDG cấp tỉnh, Kết quả có 10 GV được công nhận GVDG cấp tỉnh, trong đó có 01 GV đạt thành tích xuất sắc bộ môn Toán.
* Những hạn chế:Đội ngũ giáo viên tuy đã được bổ sung hàng năm nhưng vẫn còn thiếu nhiều so với nhu cầu, nhất là cấp tiểu học. Số lượng biên chế so với quy định vẫn còn thiếu nhiều. Đối với bậc THCS tuy cơ bản đủ về số lượng, song cơ cấu bộ môn vẫn chưa phù hợp. Năm qua, việc tuyển dụng giáo viên tuy được tiến hành sớm nhưng giáo viên sau khi trúng tuyển bỏ nhiệm sở nhận công tác ở các đơn vị khác nên Phòng không chủ động được kế hoạch đội ngũ.
Tỷ lệ GV chưa đạt chuẩn còn cao ở cấp mầm non và tiểu học dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao (Sơ cấp: 16( MN: 13; TH: 9) chưa qua đào tạo: 03 (TH: 03đ/c). Một bộ phận giáo viên có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thấp, yếu kém về phương pháp giảng dạy, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục và đào tạo trong tình hình mới. Một bộ phận CBQL, GV, NV chưa sáng tạo, ý thức tự học, tự nghiên cứu thấp, chưa mạnh dạn chủ động trong công việc.
3.2. Công tác xây dựng, sử dụng và bảo quản CSVC-Kỹ thuật trường học:Ngay từ đầu năm học, Phòng đã chỉ đạo các đơn vị rà soát các hạng mục, chủng loại đồ dùng, thiết bị được trang cấp; tổ chức sắp xếp, bố trí hợp lí, khoa học; xây dựng kế hoạch bảo quản và mua sắm bổ sung một cách thường xuyên.
Tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng và bảo quản đồ dùng, thiết bị dạy học; chỉ đạo chặt chẽ việc theo dõi quá trình sử dụng ĐD, TB của giáo viên ở các trường, xem việc sử dụng ĐD, TB là một trong những tiêu chí đánh giá thi đua, đánh giá năng lực giáo viên hàng năm.
Đa số các đơn vị đều có hồ sơ, sổ sách theo dõi mượn, sử dụng đồ dùng, thiết bị khá khoa học. Ở nhiều đơn vị, giáo viên cơ bản sử dụng thường xuyên và khai thác có hiệu quả. Phong trào tự làm, tự mua sắm ĐDDH được triển khai khá thường xuyên.
Việc thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học: Ban chỉ đạo thực hiện chương trình Kiên cố hóa trường lớp học tham mưu UBND huyện đầu tư kinh phí xây dựng nhà ở cho giáo viên tạo điều kiện cho giáo viên an tâm công tác ở các đơn vị A Vao, Pa Nang, MG A ngo, MG Húc Nghì. Trong năm 2008 xây 08 phòng học- 2.080 triệu; 22 phòng ở giáo viên - 1.410 triệu. Kế hoạch 2009 đã bố trí 3,1 tỷ gồm 7 phòng học, 04 phòng bộ môn, 12 phòng ở giáo viên.
Hiện toàn huyện có 16/23 trường phổ thông được cao tầng hoá. Tổng số phòng học hiện có 341 phòng trong đó:
- Ngành học MN: Tổng số: 65 phòng (Kiên cố: 16; Cấp 4: 46; tạm: 03)
- Cấp Tiểu học: Tổng số: 219 phòng (Kiên cố: 106; Cấp 4: 88; tạm 25)
- Cấp THCS: Tổng số: 57 phòng (Kiên cố: 55; Cấp 4: 02)
* Thư viện đạt chuẩn theo Quyết định 01: có 02 đơn vị: THCS Ba Lòng, TH số 1 Hướng Hiệp.
*Nhà ở giáo viên:
- Ngành học MN: Tổng số hiện có: 32 phòng (trong đó: cấp 4: 31; tạm: 01)
- Cấp Tiểu học: Tổng số hiện có: 106 phòng (trong đó 20 phòng tạm).
- Cấp THCS: Tổng số hiện có: 48 phòng (trong đó 02 phòng tạm).
* Những hạn chế:Hiện trạng CSVC ở các trường học đang còn thiếu, chưa đáp ứng với quy mô phát triển trường lớp đặc biệt là ngành học mầm non và tiểu học. Đa số các trường mẫu giáo phải giảng dạy trong các phòng học tạm hoặc mượn nhà dân, mượn phòng của các trường TH (mượn 27 phòng). Nhiều điểm trường lẻ của tiểu học vẫn ở tình trạng tạm bợ, thưng che tranh tre tạm thời. Hầu hết các trường tiểu học chưa đủ CSVC để dạy học hai buổi/ngày theo chủ trương của Bộ GD &ĐT (Tỷ lệ học sinh tiểu học học 2 buổi trên ngày chỉ đạt 2,28%); phòng bộ môn, phòng thực hành, phòng thư viện, phòng thiết bị, khu hiệu bộ ... ở các trường vẫn đang còn thiếu nhiều.Việc tìm kiếm mặt bằng xây dựng ở một số đơn vị gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc đầu tư xây dựng công trình. Tiến độ kiên cố hóa trường lớp học còn chậm do nguồn vốn cấp quá ít, địa phương không có nguồn đối ứng (năm 2008 và 2009 xây được 19 phòng học - đạt 15.2%)
Do điều kiện CSVC của nhiều trường chưa đầy đủ, phòng học, phòng chức năng còn thiếu nhiều nên việc lưu trữ, sắp xếp và bảo quản chưa đạt yêu cầu. Bên cạnh đó vẫn còn tình trạng giáo viên lười sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học hoặc sử dụng chưa có hiệu quả trong giờ học.
3.3. Công tác tài chính:Với đặc thù là một huyện miền núi, việc huy động các nguồn vốn, sự đầu tư cho giáo dục từ các cá nhân, tổ chức còn nhiều khó khăn. Vì vậy, nguồn chi của ngành giáo dục trên địa bàn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước.
Phòng Giáo dục & Đào tạo với chức năng là đơn vị dự toán cấp một đã chủ động phân bổ ngân sách cho các đơn vị trường học đúng, đủ và hợp lý, tạo điều kiện cho các trường học tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trong năm học. Bên cạnh đó, Phòng cũng đã tham mưu cho UBND huyện bố trí kinh phí đầu tư cho các trường xây dựng chuẩn quốc gia, các trường mới chia tách một cách phù hợp.
Đối với các đơn vị trường học, công tác thu, chi được thực hiện một cách công khai, chính xác; đa số đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách cho giáo viên và thực hiện có hiệu quả nguồn kinh phí do ngân sách cấp; không có trường hợp khiếu nại về thực hiện chế độ chính sách xảy ra.4. Công tác điều hành, quản lý, chỉ đạo:Công tác quản lí tiếp tục được xem là yếu tố có tính quyết định để nâng cao chất lượng hoạt động của toàn ngành nói chung và các đơn vị trường học nói riêng. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lí, Phòng đã tranh thủ sự lãnh đạo của Cấp ủy, tiến hành phân công nhiệm vụ và giao trách nhiệm cụ thể trong lãnh đạo và cán bộ, chuyên viên Phòng. Tiếp tục kiện toàn lại cơ cấu bộ máy quản lý ở các nhà trường một cách hợp lý hơn theo hướng chuẩn hóa, chú trọng chất lượng và hiệu quả công việc, nhằm phát huy hiệu lực quản lý nhà nước và tăng cường kỷ cương nề nếp trường học. Tiến hành việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm và quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận. Tham mưu cho UBND huyện về quy hoạch mạng lưới trường lớp và quy hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia.
Phòng GD&ĐT đã tổ chức các phiên làm việc với Đảng ủy, Chính quyền địa phương ở các đơn vị vùng khó, tổ chức các Hội nghị công tác nhằm tìm ra những giải pháp toàn diện và hiệu quả nhằm thực hiện tốt kế hoạch của các nhà trường và của toàn ngành.
Đối với công tác chỉ đạo chuyên môn, Phòng Giáo dục & Đào tạo tiếp tục củng cố mạng lưới chuyên môn nghiệp vụ các ngành học bậc học đồng thời thay đổi hình thức sinh hoạt MLCM theo hướng chuyên sâu, đem lại hiệu quả thiết thực. Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà, chất lượng mũi nhọn, tổ chức tốt các hội thi giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi các cấp. Tập trung mạnh mẽ công tác phổ cập và thực hiện các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ. Công tác thanh, kiểm tra, chỉ đạo đã được thực hiện khá kịp thời. Bên cạnh việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về các nhiệm vụ trong năm học, Phòng GD&ĐT đã tổ chức các đoàn kiểm tra tình hình đầu năm học, thanh tra toàn diện, thanh tra trong các đợt tổ chức xét TN, tổ chức thi học kỳ, kiểm tra tài chính. Năm qua, Phòng đã tiến hành thanh tra toàn diện: 10 đơn vị (03 trường MN, 02 trường TH, 02 trường THCS, 03 trường TH&THCS); thanh tra toàn diện hoạt động sư phạm giáo viên: 152 đ/c Trong đó: (MN: 25; TH: 72; THCS: 55), xếp loại: Xuất sắc: 25; Khá: 79; TB: 44; Kém: 04
Trong công tác tham mưu và phối hợp, Phòng Giáo dục & Đào tạo chủ động đề xuất, tranh thủ ý kiến của Sở Giáo dục & Đào tạo, Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện để chỉ đạo và tổ chức thực hiện các hoạt động có kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. Phối kết hợp tốt với các Ban, Ngành, Đảng ủy, UBND các xã, thị trấn để có sự và thống nhất và tập trung trong việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dục tại địa phương.
Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn và hạn chế cơ bản đó là:Điều kiện giáo dục của giáo dục miền núi đã có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều hành, quản lý và chỉ đạo trong toàn ngành. Đội ngũ cán bộ quản lý từ Phòng đến trường thiếu so với yêu cầu nên ảnh hưởng đến một số mặt công tác, nhất là việc thanh tra, kiểm tra. Một số cán bộ quản lý năng lực còn hạn chế, chưa thật sự tâm huyết với công việc. Công tác kiểm tra của hiệu trưởng, của chuyên môn nhà trường chưa thường xuyên, nhất là các điểm trường lẻ, dẫn đến một số GV còn vi phạm bỏ giờ, bỏ lớp, copy giáo án nhưng không được phát hiện kịp thời. Việc đánh giá chất lượng công tác của cán bộ giáo viên ở nhiều trường chưa chính xác. Hiệu trưởng các trường chưa có biện pháp quản lí chất lượng học sinh nên kết quả đánh giá có phần chưa phản ánh đầy đủ thực chất.Chế độ báo cáo của nhiều đơn vị thiếu kịp thời, thông tin thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến công tác điều hành, quản lý, chỉ đạo toàn ngành.
5. Công tác xã hội hoá giáo dục:Công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được chú trọng, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương đã có cách nhìn mới về giáo dục, quan tâm và tạo điều kiện hơn cho giáo dục phát triển đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới. Trong năm học 2008-2009, Hội đồng giáo dục các cấp tiếp tục được củng cố và kiện toàn; vai trò trách nhiệm được phát huy, nhiều chủ trương, định hướng chiến lược phát triển giáo dục huyện nhà trong thời gian tới được nhân dân trong huyện đồng tình hưởng ứng.
Tinh thần học tập để nâng cao trình độ văn hoá trong nhân dân đã có sự chuyển biến. Ở một số địa phương, chính quyền cơ sở đã có những biểu hiện quan tâm rõ nét hơn đối với giáo dục như tăng cường các điều kiện CSVC để phục vụ công tác dạy và học; quan tâm hơn đối với đời sống vật chất và tinh thần của c
Hoàng Tuấn Kiệt @ 11:23 06/09/2009
Số lượt xem: 175
Số lượt thích:
0 người
 
- THỰC HIỆN ND 158/2005 ND-CP (06/09/09)
- THÔNG BÁO HIẾN MÁU NHÂN ĐẠO (06/09/09)
- HƯỚNG DẪN GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG 2009-2010 (06/09/09)
Các ý kiến mới nhất